Nội
dung phòng bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) bao gồm nhiều vấn đề: phòng để
không bị bệnh khi người ta có nguy cơ mắc bệnh, phòng để bệnh không tiến
triển nhanh và phòng để giảm thiểu tối đa các biến chứng của bệnh nhằm
cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Ý nghĩa của việc phòng
bệnh trong ĐTĐ không kém phần quan trọng so với việc điều trị bệnh vì nó
cũng là một phần của điều trị.
Phòng với người có nguy cơ mắc ĐTĐ
Việc
phòng nguy cơ mắc ĐTĐ làm giảm tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng. Ngày
nay, người ta đã biết ĐTĐ týp 2 có thể phòng ngừa được. Nhiều nhiên cứu
cho thấy, nếu bệnh được phát hiện từ khi còn là yếu tố nguy cơ, người ta
sử dụng chế độ ăn, chế độ luyện tập thì tỉ lệ bệnh ĐTĐ đã giảm xuống
một cách đáng kể. Các yếu tố nguy cơ đó là: thừa cân béo phì, BMI (chỉ
số trọng lượng cơ thể) trên 23; tăng huyết áp vô căn; trong gia đình có
người mắc bệnh ĐTĐ ở thế hệ F1; tiền sử có ĐTĐ thai nghén hoặc khi sinh
con có cân nặng trên 4.000g; người 45 tuổi trở lên; người được chẩn
đoán là có suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói hay rối loạn dung nạp
glucose; người được chẩn đoán có rối loạn chuyển hóa lipid, đặc biệt khi
có HDL - cholesterol thấp (dưới 0,9mmol/l) và tryglicerid máu cao (từ
2,2mmol/l trở lên); người gốc châu Á, Phi đến sống ở nước công nghiệp
phát triển và/hoặc dân cư ở các nước đang có sự thay đổi nhanh chóng về
lối sống như ít hoạt động thể lực, ăn thừa năng lượng...
Người béo phì có nguy cơ mắc đái tháo đường cao. |
Người
ta đặc biệt quan tâm đến trường hợp bị rối loạn dung nạp glucose, suy
giảm dung nạp glucose máu lúc đói, trong thực tế những bệnh nhân này đã
có kèm theo rối loạn chuyển hóa lipid giống như người ĐTĐ týp 2, nhưng
họ lại không biết mình mắc bệnh, không có biện pháp phòng chống và điều
trị đúng, vì thế nguy cơ bệnh lý tim mạch ở họ thường cao.
Ở Việt
Nam, trong khi chúng ta còn đang đặt trọng tâm vào việc chống suy dinh
dưỡng do thiếu năng lượng, thiếu vi chất, thì vấn đề phòng chống béo phì
cũng cần được suy nghĩ nghiêm túc bởi các lý do:
- Sự thay đổi
nhanh chóng của nền kinh tế xã hội kéo theo sự thay đổi về lối sống như
ít hoạt động thể lực; thay đổi môi trường sống và làm việc; tốc độ đô
thị hóa nhanh chóng, thay đổi về phong cách ăn, uống...
- Các bậc
cha mẹ ngày nay tập trung chăm sóc đến mức thái quá cho trẻ nhỏ. Đây
cũng là lý do làm tỷ lệ béo phì ở trẻ nhỏ tăng lên nhanh chóng, nhất là ở
các vùng đô thị.
- Sự kém hiểu biết về chế độ dinh dưỡng khoa
học, đó là dinh dưỡng phải phù hợp với từng lứa tuổi, thậm chí phải phù
hợp với từng cá nhân, từng giai đoạn của cuộc sống (nhất là thời kỳ còn
là bào thai) cũng là một yếu tố làm tăng tỷ lệ bệnh.
Phòng bệnh với người đã bị mắc bệnh ĐTĐ
Với
đối tượng này, mục đích của phòng bệnh là làm chậm sự tiến triển của
bệnh và/hoặc làm giảm mức độ của các biến chứng. Vì thế quản lý bệnh tốt
căn cứ theo những chỉ tiêu cụ thể cũng là biện pháp phòng bệnh tích
cực.