Tại Việt Nam, hàng năm có đến hơn 6 ngàn
phụ nữ phát hiện bị ung thư cổ tử cung và cứ mỗi ngày thì có 9 phụ nữ
chết vì căn bệnh này. Một số lý do dẫn đến tỉ lệ mắc bệnh UTCTC cao bao
gồm số phụ nữ tham gia khám phụ khoa định kỳ để được tầm soát ung thư
còn thấp, các chương trình tầm soát cũng chưa được bao phủ rộng, ý thức
phòng bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ còn hạn chế do thiếu những
chương trình tuyên truyền giáo dục.
Gánh nặng
Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất
kỳ ai và đặc biệt, bệnh thường tấn công vào phụ nữ ở 35-40 4 tuổi trở
đi. Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong cuộc đời của một người phụ
nữ với nhiều thiên chức lớn lao: làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc gia
đình và hơn thế nữa, ở độ tuổi này phụ nữ cũng đồng thời đã tạo dựng
được sự nghiệp của mình
Nhiều năm làm việc trong ngành sản phụ
khoa, tiếp xúc với nhiều bệnh nhân, tôi nhận thấy những chị em bị ung
thư cổ tử cung phải gánh chịu những ảnh hưởng lớn về thể chất và tinh
thần. Ngay khi nhận một kết quả xét nghiệm bất thường hay chẩn đoán có
những tổn thương tiền ung thư, chất lượng cuộc sống của người phụ nữ đã
bị ảnh hưởng nghiêm trọng; tinh thần suy sụp và nảy sinh những suy nghĩ
tiêu cực; lo lắng về khả năng sống còn của bản thân, kèm theo những nỗi
lo cho gia đình, tài chính, về khả năng chăm sóc con cái, khả năng mang
thai và hạnh phúc gia đình khi điều trị. Đó là chưa kể những gánh nặng
tâm lý mà toàn thể gia đình của bệnh nhân phải gánh chịu, cũng như gánh
năng về tài chính khi mất nguồn thu nhập trong gia đình, phí tổn không
nhỏ cho việc điều trị.
Nguyên nhân
Do virus HPV (Human Papillomavirus) gây
ra. HPV rất dễ lây lan và hầu hết mọi phụ nữ đều có nguy cơ nhiễm phải.
Trung bình cứ 10 phụ nữ thì có đến 8 người có thể từng một lần nhiễm HPV
trong đời 2,3,4. Do đó quan niệm ung thư cổ tử cung không thể xảy đến
với mình nên không cần những biện pháp phòng ngừa là sai lầm cần phải
thay đổi.

HPV là nguyên nhân gây ra ung thư cổ tử cung
Không phải cứ nhiễm HPV là bị ung thư cổ
tử cung. Nhiều chị em nhiễm HPV rồi tự hết mà không cần điều trị. Một
số khác nhiễm lâu dài với những loại HPV có khả năng gây ung thư qua
nhiều năm thì các tổn thương sẽ dần dần tiến triển ở cổ tử cung và trở
thành ung thư. Những loại HPV gây ra ung thư cổ tử cung nhiều nhất là
HPV 16, 18, 31, 45. 4 tuýp này là thủ phạm gây ra hơn 80% các ca ung thư
cổ tử cung.
Triệu chứng
Ung thư cổ tử cung không xảy ra đột ngột
mà âm thầm trải qua các giai đoạn từ nhiễm HPV, đến những bất thường ở
cổ tử cung, các tổn thương tiền ung thư rồi đến ung thư, kéo dài trung
bình từ 10 – 15 năm. Đặc biệt giai đoạn tiền ung thư hầu như không có
triệu chứng gì, do đó chị em không nhận biết mình mắc bệnh nếu không đi
khám phụ khoa. Khi đã ở những giai đoạn muộn, bệnh nhân có những biểu
hiện như ra huyết trắng có mùi hôi, có lẫn máu, chảy máu âm đạo sau giao
hợp hoặc sau khi làm việc nặng dù không đang ở chu kì kinh nguyệt, hoặc
nặng hơn có thể chảy dịch có lẫn máu ở âm đạo, kèm theo đau bụng, lưng,
vùng chậu và chân. Nếu chị em thấy mình có bất kỳ dấu hiệu nào kể trên
thì hãy đến gặp bác sĩ ngay. Không nên coi thường và bỏ qua những triệu
chứng này. Khi các triệu chứng bị bỏ qua thì ung thư sẽ có thời gian để
tiến triển đến những giai đoạn muộn hơn và việc điều trị sẽ càng khó
khắn.
Phòng ngừa

Khám tầm soát thường qui cho mẹ, chủng ngừa HPV cho con để ngăn chặn ung thư cổ tử cung
Có 2 cách phòng ngừa là tiêm vắc xin để
phòng nhiễm các tuýp HPV gây ung thư cổ tử cung và khám tầm soát ung thư
cổ tử cung bằng phết tế bào cổ tử cung định kỳ cho những phụ nữ đã có
quan hệ tình dục. Việc phòng ngừa đạt kết quả cao nhất khi kết hợp 2
phương pháp này.
Hiện nay tại Việt Nam đã có vắc xin ngừa
những tuýp HPV gây ung thư phổ biến nhất, được tiêm cho phụ nự từ 10
đến 25 tuổi, kể cả người chưa và đã có quan hệ tình dục đều có thể tiêm.
Bên cạnh đó những chị em đã có gia đình cần thực hiện khám phụ khoa và
tầm soát bằng phương pháp phết tế bào cổ tử cung (PAP smear) định kỳ, ít
nhất 1 năm/ 1 lần, để phát hiện kịp thời và có giải pháp điều trị ở
những giai đoạn sớm của bệnh.
Tài liệu tham khảo
1. WHO/ICO
Information Center on HPV and Cervical Cancer (HPV information Center).
Human Pappilomavirus and related cancers in Vietnam. Summary Report 2010
2. Burchell Ann N,
Winer RachelL, Saniose Silvia de, Tranco Tduardo L. Chapter 6:
Epidemiology and transmission dynamics of genital HPV Infection. Vaccine
2453(2006) 53 53-61
3. Schwarz, Leo,
Immune response to human papillomavirus after phrophylactic vaccination
with AS04-adjuvanted HPV-16/18 vaccine: improving upon nature. Gyne.
Onco 110 (2008) S1-S10
4. Bosch FX et al. J Clin Pathol 2002; 55: 244-65
5. 5.Munoz et al,
Against which human pappilomavirus types shall we vaccinate and screen?
The international perspective. Int. J. Cancer: 111, 278-285 (2004).
Thông tin giáo dục cộng đồng này được cung cấp bởi Hội Y Học Dự Phòng Việt Nam với sự hỗ trợ của VPDD GlaxoSmithKline